Home / Giáo dục / Phân tích và so sánh nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ

Phân tích và so sánh nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ

Phân tích và so sánh nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ

Bài làm

Nếu Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của người nông dân, Nguyên Ngọc là nhà văn của những anh hùng thì Tô Hoài là nhà văn của những phong tục tập quán. Những câu chữ, nhân vật của ông đều mang những nét rất riêng của những giá trị truyền thống, sức sống dân tộc. Có thể thấy qua hình tượng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”.

Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là kết quả của chuyến đi thực tế năm 1953. Có thể nói: “đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên….” Chẳng những nhắc nhớ người nghệ sĩ ấy ngày quay trở lạ mà còn “phải đem trả cho những người thương ấy” “một tấm lòng mình, một cái gì làm hiện lại cả cuộc đời người Hmông trung thực, chí tình…”. Câu chuyện kể về cuộc đời Mị và A Phủ. Trong đó, nhân vật Mị, vì “cha mẹ ăn của bạc nhà giàu từ kiếp trước” nên kiếp này phải làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Sa chân vào chốn nhà quan, bị đọa đày về thể xác lẫn tinh thần, Mị tìm đến cái chết. Nhưng vì thương cha, Mị không đành lòng mà tiếp tục về làm thân trâu kiếp ngựa. Mị cứ sống như thế, nếu không có đêm tình mùa xuân…

Nhân vật Mị được đặt vào trong đêm tình mùa xuân- chất xúc tác để làm bừng thức sức sống tiềm tàng bên trong. Thời gian: mùa xuân là mùa vạn vật sinh sôi nảy nở, cũng là khi trai gái mở hội lòng, từ đó mà gợi mở thanh xuân đời người. Không gian được tô sắc bởi màu đỏ của bí đỏ, màu vàng ửng của cỏ gianh, bởi những chiếc váy hoa sặc sỡ như những con bướm. Tất cả tạo nên không khí tươi mới và ấm áp. Rồi khắp không gian là tiếng cười ầm của trẻ em, tiếng sáo rủ bạn đi chơi, tiếng chó sủa xa xa, … thật đông vui. Không khí thì bình yên, vui tươi, ấm áp từ bên ngoài tràn vào lòng người. Đó chính là phông nền tự nhiên để đời sống tâm hồn Mị xuất hiện đầy sống động.

Xem thêm:  Tả cảnh mặt trời mọc trên biển - Văn mẫu lớp 6

Sức sống bắt đầu từ sự hồi sinh của các giác quan. Mắt Mị “không còn mông lung”, nhìn thấy “mờ mờ trăng trắng” nữa mà biết nhận được các sắc màu tươi thắm của cuộc đời. Tai Mị đã không còn nghe tiếng chân ngựa đạp vách mà mở lòng lắng nghe âm thanh sống động của cuộc sống. Thân xác không còn héo hon mà rạo rực bởi men say rượu ngô. Từ đó mà những nhận thức mới được hồi sinh. Mị nhẩm thầm bài hát của người đang thổi, bài hát đắm say đã rất lâu, ngủ rất lâu nay bỗng tìm về. Mị uống rượu, uống từng bát. Đó quyết không phải cách uống rượu của đàn bà vùng cao mà như muốn nuốt cho sâu, vùi cho chặt đáy lòng những khổ đau, buồn tủi. Men rượu ngấm, khơi dậy trong Mị những kí ức. Mị say, lịm mặt ngồi đấy, lòng Mị đang sống về ngày trước, sống một cách trọn vẹn như không mảy may thiết đến những đắng cay hiện tại. Rồi những cảm xúc hồi sinh trở lại, Mị thấy phơi phới một niềm vui hân hoan. Mị hồi sinh tiếp về nhận thức, về tuổi trẻ của mình: “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ”, về khát vọng: “Mị muốn đi chơi”, về quyền sống “Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi” về cuộc sống của mình: “Mị và A Sử không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Những khát vọng được hồi sinh dẫn đến hành động: Mị sửa soạn đi chơi: “đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bơ bỏ vào đèn cho sáng”. Chỉ khi người ta không còn muốn sống chung với bóng tối, người ta mới tìm đến ánh sáng. Những câu văn ngắn cùng với sự lặp lại chủ ngữ Mị, các động từ hối hả, thái độ mạnh mẽ, dứt khoát của một con chim muốn tháo cũi sổ lồng. Rồi Mị vùng bước đi trong lúc bị trói. Sợi dây nghiệt ngã của số phận chỉ có thể trói được chân Mị nhưng không thể trói buộc được đôi cánh tâm hồn. Con chim dẫu chưa thoát ra khỏi cũi cao lồng hẹp nhưng tiếng ca của nó đã vang động đến tận trời xanh. Rồi khi nhớ về người đàn bà đồng phận, “Mị sợ quá, cựa quậy, xem mình còn sống hay đã chết”. Khi con người bị dồn đến cùng đường tuyệt lộ, đối diện với cái chết thì người ta lại càng tha thiết sống. Như cành cỏ héo khô chờ ngày kết thúc, Mị lại tràn trề sức sống, khát vọng sống.

Xem thêm:  Biểu cảm về cô giáo mà em yêu quý nhất

Và sức sống tiềm tàng của Mị lên đến cao trào chính là trong đêm đông cởi trói cho A Phủ. Ban đầu, khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói đứng, Mị vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay”. Vì Mị đã quá quen với cảnh áp bức, bóc lột trong căn nhà này ròi. Đó là hệ quả của chuỗi ngày bị đọa đày. Mị chạy theo A Phủ, nói: “A Phủ cho tôi đi”, “Ở đây thì chết mất”. Mị đã quyết định chạy trốn khỏi địa ngục, chạy trốn khỏi cái chết. Như vậy, hành động cởi trói cho A Phủ cũng là cởi trói cho chính mình. Mị giải phóng cho A Phủ bằng con dao nhỏ còn giải phóng cho mình bằng khát vọng sống. Khát vọng sống đã cứu Mị, mở đường cho Mị. Đó chính là niềm tin của Tô Hoài vào khả năng tự giải phóng để đến với tự do, đến với cách mạng của những người lao động vùng cao bằng năng lượng tự thân của chính họ.

Nhân vật Mị, từ nô lệ đã vượn tới tự do và tự chủ cuộc đời mình, từ bóng tối để bước ra ánh sáng, từ nỗi đau để tiến tới niềm vui, từ đợi ngoại cảnh tác động đến sử dụng nội lực tự thân để tìm lại chính mình. Từ đêm tình mùa xuân đến đêm đông là cả một quá trình vận động, hồi sinh sức sống của Mị. Từ tâm thức, tiềm thức đến hành động. Nếu ở đêm tình mùa xuân, khát vọng sống nương theo tiếng sáo thì ở đêm đông, nó lại được cháy lên bởi ngọn lửa. Đêm tình chính là tiền đề để có được hành động cắt dây cởi trói trong đêm đông, chính sự hồi sinh về giác quan, cảm xúc, hồi ức của đêm tình để tạo nên sự tái sinh cuộc đời mới ở đêm đông. Đó là quá trình vận động tâm lí rất tinh tế mà logic, tự nhiên được Tô Hoài miêu tả bằng ngòi bút miêu tả tâm lí sắc sảo. Nhưng sau tất cả, ta đều thấy được bản tính mạnh mẽ, khong chịu chấp nhận số phận, vượt thoát khỏi cuộc sống thực tại để sống là chính mình. Đó không phải là sự thay đổi của bản năng mà là kết quả tất yêu của sức sống tiềm tàng, của khát khao hạnh phúc. Cái hay của nhà văn là không chỉ dừng phản ánh hiện thực đương thời để nói những vấn đề nhất thời mà bởi ông đã nhìn và phản ánh được vấn đề muôn thuở của nhân loại, có tình nhân bản của văn học: sức mạnh lớn nhất, ánh sáng lớn nhất là ở tự thân mỗi người, do bản thân mỗi con người, không phải ở tha nhân hay cách mạng.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương lớp 11

Bởi thế, “Vợ chồng A Phủ” đã đứng cao hơn các tác phẩm chỉ là sự minh họa giản đơn của những tư tưởng chính trị phục vụ cách mạng, mà nằm ngoài quy luật băng hoại của thời gian, mình nó “không thừa nhận cái chết”. Nhân vật dạy cho ta nhiều hơn chỉ là số phận của con người miền núi thời trước.

Check Also

bloghocsinh img - Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ Bài làm …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *